Thứ bảy, 11/8/2012 | 02:03 GMT+7
Chia sẻ bài viết lên facebook Chia sẻ bài viết lên twitter Chia sẻ bài viết lên google+ | Print
Thứ bảy, 11/8/2012 | 02:03 GMT+7

Sự thật trần trụi về lãi suất Libor

Vụ ngân hàng Barclays của Anh toan tính làm giá lãi suất liên ngân hàng London, hay còn gọi là lãi suất Libor - công cụ tham chiếu chi phí cho vay trên toàn thế giới, bị phanh phui đã gây ra xáo trộn trong ngành ngân hàng.
> Anh quyết phanh phui vụ thao túng lãi suất của các đại gia

Song vấn đề không chỉ nằm ở sự quản lý yếu kém từ các công ty tài chính lớn, mà còn dấy lên câu hỏi về mức đáng tin và tính chính xác của lãi suất cơ bản, vốn được khu vực tư nhân quy định và không có sự giám sát từ phía chính phủ.

Khi một khách hàng gửi tiết kiệm trong các quỹ, hay thông qua trái phiếu ngắn hạn, các dạng tài sản thế chấp hoặc vay nợ doanh nghiệp, thì lãi suất nhận hoặc được trả thường dựa trực tiếp hoặc gián tiếp trên Libor. Lãi suất này là tham chiếu cho gần một nửa khế ước cầm cố có lãi suất điều chỉnh, hơn 70% thị trường kỳ hạn (thị trường tương lai) tại Mỹ và cho phần lớn thị trường tín dụng chéo, nơi các doanh nghiệp chấp nhận rủi ro từ những thay đổi của lãi suất.

Libor hình thành từ những năm 1980 của thế kỷ trước, khi các ngân hàng bắt đầu cho vay lẫn nhau, với kỳ vọng trở thành lãi suất bình quân để những ngân hàng lớn có thể vay từ các đơn vị cùng ngành mà không phải thế chấp. Tuy nhiên, lượng nhà băng sẵn lòng cho đối thủ vay theo điều kiện như trên ngày càng giảm do sự đi xuống của nền kinh tế, bao gồm cả cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 và khủng hoảng nợ châu Âu bắt đầu từ năm 2010, cùng với đó là tín nhiệm của hàng loạt ngân hàng lớn bị hạ trong năm 2012 này.

Barclays là một trong những

Barclays là một trong những "ngân hàng đại gia" của Anh dính vào bê bối lãi suất. Ảnh: Hydromontage

Nhiều ngân hàng đã chuyển sang hình thức vay đảm bảo và lựa chọn những đơn vị lớn như Cục dự trữ liên bang (Mỹ) hay Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB). Năm 2008, Thống đốc Mervyn King của Ngân hàng Anh quốc nói: "Nói kiểu gì cũng có thể hiểu Libor là lãi suất mà các ngân hàng không cho nhau vay được". Những thay đổi trên thị trường đã khiến người ta phải đặt câu hỏi trước tính chính xác của loại điểm quan trọng này.

Đầu tiên là tại sao Libor lại khác biệt so với các chuẩn điểm lãi suất vay theo đồng đôla Mỹ hay liên ngân hàng châu Âu (Euribor) đưa ra? Cả hai đều được tính toán dựa trên câu trả lời của các ngân hàng. Đối với Libor, nhà băng sẽ được hỏi họ cho rằng lãi suất đi vay của mình là bao nhiêu, trong khi với Euribor, ngân hàng phải trả lời câu hỏi theo họ lãi suất nào có thể cho các đơn vị cùng ngành khác vay được.

Tiếp theo, vì sao Libor và các điểm lãi suất điển hình khác lại không có cùng biên kể từ năm 2008, khi lãi suất vay có thể mặc định bởi thị trường ngoại hối? Lý thuyết tài chính lâu nay vẫn được biết đến với tên "ngang giá lãi suất" cho thấy, sự khác biệt giữa lãi suất tại hai quốc gia sẽ đồng hành với thay đổi trong tỷ giá giao dịch giữa đồng tiền của hai nhà nước. Theo như lý thuyết này, cho đến năm 2007, những chênh lệch giữa lãi suất vay và cho vay của hai loại tiền khác nhau sẽ tính dễ dàng qua tỷ lệ ngoại hối.

Thứ ba, tại sao biến động của đồng đôla (vốn đặt cho Libor) lại thấp hơn nhiều so với các loại điểm tín dụng ngắn hạn khác trên thị trường? Giống như cổ phiếu và trái phiếu, lãi suất ngắn hạn luôn phải chịu những biến động nhất định.

Thêm vào đó, lãi suất có nhiều mức khiến một số nhà băng đã đề nghị Hiệp hội Ngân hàng Anh không so với những bản hợp đồng hoán đổi nợ xấu của họ (những công cụ tài chính tương tự như bảo hiểm và là một biến pháp để tính toán rủi ro tính dụng của ngân hàng). Đã từng có thời gian lãi suất các hợp đồng này nới rộng tại một số ngân hàng (cho thấy nguy cơ tín dụng tăng cao), trong khi Libor vẫn ổn định (đồng nghĩa với chi phí vay mượn của ngân hàng không thay đổi).

Khi Ủy ban Giao dịch hàng hóa tương lai (CFTC), đơn vị giám sát đa dạng thị trường, bắt đầu để mắt tới lãi suất vào năm 2008, họ phải để ý tới các câu hỏi vì sao số vay nợ giữa các ngân hàng lại giảm xuống (dựa trên Libor). Luật trao đổi hàng hóa Mỹ ghi rõ ngăn cấm các hành vi thao túng và báo cáo sai thông tin nhằm mục đích làm giá sản phẩm, bao gồm cả lãi suất như Libor. Thị trường vận hành tốt nhất khi các điểm lãi suất được dựa trên những giao dịch thực tế, và nếu Libor không có mặt trong những thương vụ như vậy, mọi thứ sẽ bị đẩy khống lên.

Một giải pháp cho vấn đề này là sử dụng lãi suất khác, ví dụ lãi suất hoán đổi qua đêm (dựa trên giao dịch thực). Ngoài ra vẫn còn các điểm lãi suất chuẩn khác dựa trên những hợp đồng ngắn hạn được đảm bảo giữa các ngân hàng và những đơn vị tài chính khác.

Bê bối của ngân hàng Barclays cho thấy Libor đang trở nên yếu ớt hơn trong khâu quản lý. Lúc này, ngành ngân hàng cần phải thay thế Libor bằng một chuẩn khác, dựa trên các giao dịch thực và dễ kiếm chứng, để phục hồi lại niềm tin của khách hàng đối với lãi suất vay mượn, vốn luôn cần trung thực và rõ ràng.

Anh Quân

 
 
 
 

Đại gia thủy sản Tòng Thiên Mã nợ 800 tỷ đồng

B​ước đầu xác định doanh nghiệp của đại gia thủy sản Cần Thơ đang dính khoản nợ "khủng" lên đến 800 tỷ đồng với các ngân hàng, đối tác và người nuôi cá tra.

Nhân viên Chứng khoán Kim Long được chia 300 triệu đồng khi giải thể

Bên cạnh khoản hỗ trợ 3 tháng lương, nhân viên Chứng khoán Kim Long dự kiến còn được chia thêm phần tiền từ quỹ khen thưởng, phúc lợi trước khi công ty dừng hoạt động.

Địa ốc tung tiện ích độc, lạ để câu khách

Lắp hệ thống lọc không khí cho dự án, xây biển đảo nhân tạo giữa khuôn viên chung cư, cung cấp dịch vụ taxi nước trên sông... là những chiêu mới nhất được các công ty bất động sản tận dụng để thu hút sự quan tâm từ các "thượng đế".

Chủ tịch VIB: Không sáp nhập với ngân hàng có vốn ảo

Dù cho biết sẽ cởi mở trong quá trình M&A song Chủ tịch HĐQT VIB khẳng định với cổ đông sẽ chỉ thực hiện sáp nhập nếu đối tác minh bạch về tài chính.

Ông Philipp Rosler: Start-up Việt phải sẵn sàng cho cách mạng công nghiệp lần thứ 4

Sau máy hơi nước, sản xuất lớn và tự động hóa, Giám đốc điều hành Diễn đàn Kinh tế thế giới cho rằng, sự hợp nhất giữa kỹ thuật số với các ngành sản xuất sẽ tạo nên cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, mở ra cơ hội cho tất cả các nước.
 
 
Lên đầu trang