Thứ hai, 7/4/2008 | 18:24 GMT+7
Chia sẻ bài viết lên facebook Chia sẻ bài viết lên twitter Chia sẻ bài viết lên google+ | Print
Thứ hai, 7/4/2008 | 18:24 GMT+7

Giải bài toán lạm phát tại Việt Nam

"Từ khi tôi trở lại sinh sống và làm việc ở Việt Nam năm 1995, chưa bao giờ kinh tế lại trải qua những giờ phút căng thẳng như hiện tại" - Giáo sư Hà Tôn Vinh, ĐH Hawaii, viết cho VnExpress.
> Lạm phát – Hiện tượng của bất kỳ nền kinh tế nào

Chỉ số giá tăng 19% so với cùng kỳ năm trước là một con số đáng kể. Để chặn đứng cơn sốt lạm phát, cần có những chính sách minh bạch, cứng rắn và hữu hiệu từ trên xuống dưới

Hiện tượng lạm phát phi mã gần đây ở VN có tất cả những dấu hiệu của lạm phát ở các nước chậm tiến hay đang phát triển, đã được nhiều chuyên gia và các tổ chức quốc tế đề cập đến và cảnh báo khá nhiều từ hơn một năm nay. Nguy cơ lạm phát bùng nổ khi Chính phủ cũng như doanh nghiệp chạy theo chỉ tiêu và hào quang của tốc độ phát triển kinh tế cũng đã được đề cập. Chính phủ trong những năm gần đây thúc đẩy doanh nghiệp chạy nước rút để đạt nhiều chỉ tiêu kinh tế, năm sau cao hơn năm trước. Cố gắng này làm giảm sự chú ý tới khả năng chịu đựng và phát triển của doanh nghiệp, sự mất cân bằng cung cầu tiền tệ trong thị trường và ảnh hưởng của nền kinh tế dựa trên tiêu thụ và nhập khẩu của đại bộ phận doanh nghiệp và người dân.

Chính phủ đã thấy rõ được tác hại của lạm phát trên nền kinh tế còn non trẻ của VN, trên cuộc sống của người dân, nhất là trên công cuộc xóa đói giảm nghèo. Chính phủ đã có quyết tâm chặn đứng lạm phát bằng mọi giá, đã kịp thời giảm thiểu lưu lượng tiền trong nền kinh tế, cắt giảm tín dụng ngân hàng, áp dụng nhiều biện pháp chế tài mạnh mẽ, công khai chấp nhận không cần đạt chỉ tiêu phát triển kinh tế bằng mọi giá, kêu gọi người dân thắt lưng buộc bụng, điều chỉnh hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước... Một số chính sách và công cụ tài chính tiền tệ đã bắt đầu có dấu hiệu tốt. Trong lúc mọi người chờ đợi lạm phát dừng lại hay giảm xuống, đây có lẽ là lúc Chính phủ phải bắt đầu một cuộc trường chinh chống lạm phát, ổn định kinh tế lâu dài và đem lại sự thịnh vượng bền vững cho đất nước.

Giá vật liệu tăng nhanh, không ít công trình xây dựng phải dở dang. Ảnh: H.Hà.

Giá vật liệu tăng nhanh, không ít công trình xây dựng phải dở dang.
Ảnh: H.Hà.

Giờ đây, cần phải thiết lập được sự cân bằng giữa (1) nhu cầu phát triển kinh tế bền vững, (2) việc sử dụng các chính sách và công cụ mới để kiểm soát lạm phát, (3) sự có mặt và tham gia của nhiều thành phần kinh tế trong việc kiểm soát lạm phát, (4) việc tái cấu trúc hay tái xác định chiến lược phát triển và cạnh tranh của doanh nghiệp nhà nước hay có vốn của nhà nước, và đặc biệt (5) việc quản lý vĩ mô minh bạch có giám sát và điều chỉnh của Chính phủ.

Trong bối cảnh lạm phát đang thao túng thị trường, để đạt được và duy trì sự cân bằng cho những yếu tố nêu trên, cần ngay một chính sách và công cụ kiểm soát lạm phát mới, được sử dụng trong một thập niên vừa qua tại nhiều nước tiến bộ cũng như đang phát triển hay chậm tiến. Chính sách và công cụ kiểm soát lạm phát mới này được gọi là “Inflation Targeting’’, tạm dịch là chính sách ‘’xác định hạn mức lạm phát”.

Xác định “ hạn mức lạm phát” là một chính sách tiền tệ mới, được đưa ra sử dụng gần đây, gồm có nhiều đặc điểm:

a. Chính phủ công bố các hạn mức lạm phát có thể chấp nhận được trong khoảng thời gian trung hạn;

b. Việc cam kết ổn định giá của Chính phủ được lấy làm mục tiêu cho chính sách tiền tệ và tất cả các mục tiêu khác sẽ được coi là thứ yếu;

c. Chiến lược về chính sách tiền tệ trên đây được thông báo đầy đủ cho công chúng và các thị trường (chứng khoán, tiền tệ, tài chính, hối đoái, v.v.). Các quyết định về mục tiêu, chương trình hành động của Chính phủ, Ngân hàng Trung ương hay Nhà nước, các tổ chức tài chính tiền tệ, phải được công khai minh bạch trên các kênh thong tin đại chúng;

d. Quy định trách nhiệm rõ ràng của Ngân hàng Trung ương hay Nhà nước về việc duy trì hạn mức và mục tiêu kiềm chế lạm phát; và

e. Chiến lược thông tin sử dụng mọi chính sách vĩ mô về tiền tệ, hối đoái... để đưa ra được các công cụ kiểm soát lạm phát.

Nhìn vào những yếu tố nói trên chúng ta thấy ngay việc Chính phủ chỉ thông báo về hạn mức hay chỉ tiêu lạm phát trong phạm vi cho phép sẽ không đủ để kiềm chế lạm phát.

Trong một thập kỷ qua từ khi chính sách “xác định hạn mức lạm phát” được đưa vào sử dụng, đã có một số quốc gia phát triển cũng như chậm tiến đã thành công trong việc sử dụng công cụ này để kiềm chế lạm phát, như New Zealand, Anh, Thụy Điển, Australia, đặc biệt tại nhiều quốc gia có khủng hoảng tài chính như Hàn Quốc, Thái Lan năm 1997-1998, Brazil, Chi Lê, và các nước xã hội chủ nghĩa chuyển đổi sang kinh tế thị trường như Ba Lan, Hungary, và Cộng hòa Czech. Sự ổn định về giá cả là nền tảng của chính sách “xác định hạn mức lạm phát”. Sự ổn định về giá cả trong chính sách kiềm chế lạm phát này được xem như thành công nếu lạm phát ở trong khoảng mà người dân có thể chịu được, có nghĩa là lạm phát không phải là yếu tố chính trong các quyết định liên quan đến cuộc sống và thói quen mua bán hàng ngày của dân chúng.

“Xác định hạn mức lạm phát” quá thấp hoặc bằng không thường không phải là điều lý tưởng hoặc cần thiết, vì như vậy thường là dấu hiệu của tình trạng thất nghiệp gia tăng, kinh tế giảm phát, thụt lùi hoặc chững lại. Để ổn định giá và kiềm chế lạm phát, Ngân hàng Trung ương phải có trách nhiệm đầu tiên trong việc cam kết làm mọi thứ để ổn định giá cả, cần chia sẻ thông tin mau lẹ và chính xác cho cộng đồng dân chúng, công khai mọi chính sách tiền tệ và tài chính có ảnh hưởng trực tiếp đến người dân và cộng đồng doanh nghiệp. Ngân hàng Trung ương một cách nào đó phải là “của dân, do dân, và vì dân” trong việc kiểm soát và kiềm chế lạm phát. Sự tin tưởng của dân chúng vào Ngân hàng này sẽ giúp người dân và doanh nghiệp tránh tình trạng hoảng loạn, mua bán bất thường hay đầu cơ tích trữ kéo theo lạm phát phi mã.

Chúng ta thấy quá rõ tình trạng này trong những tháng gần đây, khi thị trường chứng khoán tưởng như bị đổ vỡ và lạm phát phi mã tưởng chừng không thể nào dừng lại được. Nhiều nước đang phát triển như Argentina, Thái Lan, Indonesia, Brazil, Hàn Quốc... đã thấy quá rõ tai hại của lạm phát sau khi trải qua kinh nghiệm xương máu này, khi hàng triệu người trắng tay vì thị trường chứng khoán sụp đổ, ngân hàng mất tính thanh khoản và đồng tiền mất giá. Gần đây nhất, Zimbabwe đã cho thế giới thấy thế nào là lạm phát phi mã: Tỷ lệ lạm phát 100.000% (một trăm nghìn phần trăm). Người dân Zimbabwe bây giờ ai cũng là tỷ phú đô la… Zimbabwe. Với tờ giấy bạc mệnh giá 10 triệu đôla, người dân đủ ăn một bữa sáng có bánh mì và cà phê. Vậy mà chỉ một thời gian trước đây, Zimbabwe còn tự hào là thiên đàng của Châu Phi, được coi là đứa con cưng của lục địa đen và của các nhà đầu tư thế giới. Chính phủ nước này đang nỗ lực, nhưng rất tiếc mọi sự đã muộn rồi.

Để góp thêm vào việc ổn định kinh tế, giúp phát triển bền vững, Chính phủ cần giảm bớt một số lệ thuộc hay ràng buộc, đặc biệt là tình trạng lệ thuộc quá nhiều vào một ngoại tệ, như tình trạng đôla hóa hiện nay của nền kinh tế Việt nam. Các biến đổi về tỷ giá trong thị trường ngoại tệ sẽ ảnh hưởng trực tiếp và tức thời trên nền kinh tế và trên doanh nghiệp xuất nhập khẩu trong nước tạo nên các làn sóng lạm phát khi các doanh nghiệp này tăng giá bán ra để bù vào chi phí chuyển đổi hay mua bán ngoại tệ.

Chính phủ cũng cần giảm thiểu sự áp đảo của các tập đoàn kinh tế hay Tổng công ty Nhà nước trên thị trường tài chính cũng như ngân hàng. Doanh nghiệp Nhà nước đang sử dụng khoảng 80% lượng vốn tín dụng của các ngân hàng trong nước, cộng với khoảng 70% vốn vay từ các ngân hàng hay tổ chức tín dụng nước ngoài, trong khi chỉ tạo ra gần 40% tổng sản phẩm quốc gia (GDP). Việc này tạo nên sự mất cân đối trong kinh tế, làm giảm sự tin tưởng của người dân và các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, hay khu vực tư nhân vào chính sách vĩ mô của Chính phủ.

Chiến lược đầu tư tràn lan để chứng minh khả năng đa dạng hóa ngành nghề và sức mạnh của các Tập đoàn kinh tế hay Tổng công ty Nhà nước gần đây đã cho thấy một lỗ hổng rất lớn trong chính sách điều hành doanh nghiệp của Chính phủ. Các Tập đoàn hay Tổng công ty thay vì chú trọng xây dựng doanh nghiệp dựa trên sức mạnh cốt lõi của mình thì lại mở rộng sang các ngành nghề khác để theo đuổi chính sách lợi nhuận ngắn hạn, vô hình chung làm yếu đi thế mạnh của mình trong chiến lược phát triển lâu dài. Nhiều chuyên gia tin rằng chỉ khoảng trên dưới 30% các Tập đoàn hay Tổng công ty Nhà nước đang kinh doanh trong ngành có thế mạnh của mình, còn lại khoảng 70% tham gia vào thị trường đem đến lợi nhuận ngắn hạn, như chứng khoán, nhà đất... Điều này giải thích tại sao doanh nghiệp Nhà nước Việt Nam không có thương hiệu nào khả dĩ có tiếng trong vùng và trên thế giới.

Tình trạng thiếu điện trầm trọng hiện nay trong dân chúng và cho doanh nghiệp khiến người ta phải nhìn đến các khoản đầu tư của doanh nghiệp Nhà nước trong ngành điện sang các sân khác. Nếu quả thực doanh nghiệp ngành điện của Nhà nước theo đuổi thành công mục tiêu lợi nhuận ngắn hạn trong việc đầu tư vào các lĩnh vực khác, thì ai sẽ chịu trách nhiệm khi người dân và các doanh nghiệp khác bị thiệt thòi vì thiếu điện để sản xuất. Đây là hiện tượng trong thuật ngữ kinh tế gọi là “khôn ngoan được lợi tiền xu nhưng thiệt hại thì tiêu tan tiền đồng”.

Các nhà lãnh đạo Việt Nam đã có công xây dựng và duy trì sự phát triển kinh tế trong vòng hơn một thập kỷ qua, đưa đất nước từ một nền kinh tế tập trung chật hẹp đến việc hội nhập quốc tế, và tham gia vào tiến trình toàn cầu hóa. Mong rằng lãnh đạo đất nước qua kinh nghiệm hiện tại sẽ không đợi “nước đến chân mới nhảy” hoặc “mất bò mới lo làm chuồng”.

Hà Tôn Vinh