Thứ tư, 30/5/2012 | 18:36 GMT+7
Chia sẻ bài viết lên facebook Chia sẻ bài viết lên twitter Chia sẻ bài viết lên google+ | Print
Thứ tư, 30/5/2012 | 18:36 GMT+7

Hàng trăm nghìn tỷ đồng vốn ngân hàng dành cho các tập đoàn

Số liệu của Bộ Tài chính đến tháng 9 năm ngoái cho thấy các doanh nghiệp Nhà nước đang nợ ngân hàng trên 415.000 tỷ đồng, hơn một nửa trong đó là tiền vay của các tập đoàn, tổng công ty.
> Nhà tài trợ quốc tế lo ngại về các tập đoàn Việt Nam

Những số liệu này được thể hiện khá chi tiết trong đề án Tái cơ cấu doanh nghiệp Nhà nước mà Bộ Tài vừa trình Chính phủ, cho thấy thực trạng đáng lo ngại về tài chính của các tập đoàn, tổng công ty. Không ít đơn vị rất yếu kém, tiềm ẩn nguy cơ rủi ro, mất cân đối tài chính, thua lỗ kéo dài.

Doanh nghiệp Nhà nước nặng nợ và kinh doanh kém xa khu vực tư. Ảnh: Bloomberg

Doanh nghiệp Nhà nước nặng nợ và kinh doanh kém xa khu vực tư. Ảnh: Bloomberg

Tính đến tháng 9/2011 dư nợ vay ngân hàng của doanh nghiệp Nhà nước lớn đạt trên 415.000 tỷ đồng, tương đương gần 17% tổng dự nợ tín dụng tại các ngân hàng. Trong đó, nợ vay của 12 tập đoàn kinh tế Nhà nước lên tới gần 218.740 tỷ đồng. Trong đó dư nợ lớn nhất thuộc về những “tên tuổi” như Tập đoàn Dầu khí (PVN - 72.300 tỷ), Điện lực (EVN - 62.800 tỷ đồng), Than & khoáng sản (Vinacomin - 19.600 tỷ đồng)…

Báo cáo của Bộ Tài chính cũng cho biết 30 trên tổng số 85 tập đoàn, tổng công ty nêu trên đang có tỷ lệ nợ cao hơn 3 lần vốn chủ sở hữu. Cá biệt, có 7 trường hợp đang có hệ số nợ cao hơn 10 lần, bao gồm Tổng công ty Xây dựng công nghiệp, Tổng công ty Xây dựng Công trình giao thông 1, 5 và 8, Xăng dầu quân đội, Tổng công ty Thành An, Tổng công ty Phát triển đường cao tốc.

Tình trạng nợ nần của các các tập đoàn, tổng công ty Nhà nước đã kéo dài nhiều năm nay. Năm 2006, báo cáo của Bộ Tài chính cũng cho thấy tổng nợ phải trả của các tập đoàn, tông công ty (bao gồm cả vay ngân hàng và các nguồn vốn khác) đạt gần 420.000 tỷ đồng, bằng 1,32 lần vốn chủ sở hữu. Con số này tiếp tục tăng mạnh trong những năm sau đó và đạt hơn 1.044.000 tỷ đồng, gấp 1,65 lần vốn vào năm 2010.

Lúc đó, ngoại trừ Vinashin (chưa có số liệu cụ thể) và Bảo Việt (đã cổ phần hóa), có 3 trên tổng số 12 tập đoàn có nợ vượt quá 3 lần vốn chủ sở hữu, bao gồm Tập đoàn Công nghiệp xây dựng (Sông Đà - 8,85 lần), Phát triển nhà và đô thị (HUD - 6,36 lần) và EVN (4,26 lần).

Trong khi nợ nần chồng chất, kết quả sản xuất kinh doanh của các tập đoàn, tổng công ty cũng khá bi quan. Cũng theo số liệu của Bộ Tài chính, mức lỗ bình quân của các doanh nghiệp Nhà nước cao gấp 12 lần khu vực ngoài quốc doanh, tổng lỗ lũy kế của các tập đoàn, tổng công ty đến hết năm 2011 là 26.100 tỷ đồng. Một số đơn vị lỗ lớn như EVN (2010 là 12.313 tỷ đồng), Vinashin (2009 là 5.000 tỷ), Tổng công ty Bưu chính (2009 là 1.026 tỷ)…

Tình trạng bi bét của các tập đoàn, tổng công ty cũng từng được Bộ Kế hoạch & Đầu tư cảnh báo. Tại báo cáo kết quả thí điểm thành lập tập đoàn kinh tế Nhà nước cuối năm 2011, Thứ trưởng Đặng Huy Đông cho rằng việc sử dụng vốn kém hiệu quả đã khiến những chỉ báo tài chính như lãi trên vốn chủ sở hữu (ROE) hay tổng tài sản (ROA) của các tập đoàn, tổng công ty Nhà nước thấp hơn nhiều so với mặt bằng chung.

“Với những đơn vị kinh doanh hiệu quả, bền vững, ROE cao hơn lãi ngân hàng, thì vay càng nhiều thì chủ sở hữu càng có lợi. Nhưng với những đơn vị hoạt động kém hiệu quả thì càng vay nợ, càng khó khăn”, Thứ trưởng Đặng Huy Đông giải thích.

Số liệu tài chính - kinh doanh tính đến hết năm 2010
của các Tập đoàn - Tổng công ty Nhà nước
(
Đơn vị: tỷ đồng, Nguồn: MOF)

Tập đoàn / TCT

Tổng tài sản

Nợ phải trả

Vốn CSH

LNTT

Khối tập đoàn*

1.232.146

722.734

461.634

93.765

Dệt may

15.885

9.859

4.184

976

Điện lực

301.951

239.699

56.220

-12.313

Than & Khoáng sản

82.883

56.763

23.528

8.665

Sông Đà

76.764

61.145

6.908

1.962

HUD

40.391

32.422

5.101

2.174

Cao su

49.542

21.909

24.551

7.789

VNPT

111.416

41.392

69.499

8.973

Dầu khí

466.460

215.114

232.365

44.505

Hóa chất

31.469

18.653

10.626

3.844

Viettel

55.786

25.779

28.651

15.868

Khối tổng công ty **

261.373

150.126

82.656

9.028

Vietnam Airlines

43.057

33.557

8.981

1.013

 Vinalines

 48.344

36.600 

8.576 

269 

 Petrolimex

 52.149

 41.852

 6.651

 1.382

(*: Trừ Vinashin (chưa có số liệu) và Bảo Việt (đã cổ phần hóa), **: gồm 70 tổng công ty)

Nhật Minh